Những điều cần biết về giang mai.

Giang mai là một bệnh lây truyền qua đường tình dục do xoắn khuẩn Treponema pallidum xoắn khuẩn giang mai gây ra. Đường lây truyền của bệnh giang mai hầu như luôn luôn là qua đường tình dục, mặc dù có những ca thí dụ về bệnh giang mai bẩm sinh do truyền từ mẹ sang con trong tử cung hoặc khi sinh.

 

Thời gian ủ bệnh: thường từ 21-35 ngày. Có thể 10-90 ngày. Những vết loét là yếu tố để lây truyền HIV.

 

Triệu chứng và dấu hiệu: Nguyên phát: có một (hay hơn một) vết loét không đau, đường kính 1-2 cm, ở dương vật hay ở trong hay quanh âm đạo và có thể không nhận thấy. Thứ phát: ban đỏ ở lòng bàn tay và gan bàn chân, cả ở thân mình, cánh tay và cẳng chân, kèm theo khó chịu, đau họng, sốt nhẹ, đau cơ. Cũng có thể không có dấu hiệu gì. 

 

Vết loét hạ cam trên ngón tay. Khác với các bệnh lây truyền qua đường tình dục khác, bệnh giang mai không chỉ giới hạn ở những bộ phận sinh dục, mà còn có thể lây truyền qua các tiếp xúc gần khác

 

Chẩn đoán phân biệt: hạ cam, mụn giộp, vẩy nến, viêm da (eczema), sùi mào gà sinh dục, và nhiều bệnh khác có những biểu hiện ngoài da giống như của giang mai, nên được gọi là kẻ đánh lừa giỏi. 

 

Biến chứng: giang mai muộn hay giai đoạn 3: (sau 3 đến 15 năm). Tổn thương tiềm ẩn ở hệ thống các cơ quan (gôm giang mai), u ở da, xương hoặc gan, giang mai tim mạch ảnh hưởng đến động mạch chủ và gây ra phình mạch hoặc bệnh ở van tim, bệnh ở hệ thần kinh trung ương - liệt, viêm màng não, mù, tử vong.

 

Ảnh hưởng đến thai nghén/sơ sinh: sẩy thai tự nhiên (quý 2 hay đầu quý 3), đẻ non, thai chậm phát triển trong tử cung, thai chết lưu hoặc chết sau khi đẻ ra.

 

Nếu thai bị nhiễm khuẩn mà sống sót thì có thể bị tổn thương ở nhiều cơ quan: viêm mũi, tổn thương da và ban đỏ, bất thường về răng, điếc, mù và những dị tật thần kinh trầm trọng hơn nữa (mất khả năng học tập, rối loạn tâm tính…).

 

Ghi chú: tầm soát giang mai là chiến lược đáng làm để giảm tỷ lệ bệnh và tử vong cho trẻ.

 

Giang mai sẽ ảnh hưởng đến thai nhi.

 

Điều trị:

 

Giang mai sớm (dưới 2 năm): Benzathine Pen G 2.4 triệu, tiêm bắp 1 liều duy nhất hoặc Procaine Pen G 1.2 triệu tiêm bắp trong 10 ngày liên tiếp hoặc Doxycycline 100 mg uống 4 lần mỗi ngày trong 15 ngày.

 

Giang mai tiềm ẩn (trên 2 năm): Benzathine Pen G 2.4 triệu, tiêm bắp mỗi tuần trong 3-4 tuần hoặc Procaine Pen G 1.2 triệu tiêm bắp trong 20 ngày liên tiếp hoặc Doxycycline 100 mg 4 lần mỗi ngày trong 30 ngày.

 

Giang mai sớm, khi có thai (dưới 2 năm): Benzathine Pen G 2.4 triệu, tiêm bắp 1 liều duy nhất hoặc Procaine Pen G 1.2 triệu tiêm bắp trong 10 ngày liên tiếp.

 

Giang mai tiềm ẩn, khi có thai, (trên 2 năm): Benzathine Pen G 2.4 triệu, tiêm bắp mỗi tuần trong 3 tuần hoặc Procaine Pen G 1.2 triệu tiêm bắp trong 20 ngày liên tiếp hoặc Erythromycine  500 mg, uống 4 lần mỗi ngày trong 30 ngày.

Dùng Erythromycine có tỷ lệ thất bại cao. Benzathine penicilline (Bicillin L-A, Penadur L-A, Permapen)là kháng sinh có tác dụng lâu dài của họ penicillin được dùng để điều trị giang mai, loét sinh dục và các nhiễm khuẩn khác, kể cả viêm họng. Thuốc bao giờ cũng được dùng ở dạng tiêm bắp. Thuốc ở dạng: bột để hoà tan khi tiêm: 1.2 hoặc 2.4 triệu đơn vị trong một lọ 5 ml.

 

Xoắn khuẩn giang mai.

 

Liều lượng:

 

Với loét sinh sinh dục, giang mai sớm hoặc phòng ngừa giang mai sau khi bị tấn công tình dục hoặc phơi nhiễm: tiêm bắp 2.4 triệu đơn vị, một lần.

 

Với giang mai muộn: tiêm bắp 2.4 triệu đơn vị mỗi tuần, trong 3 tuần.

 

Không dùng: Những người có dị ứng với thuốc họ penicillin.

 

Chú ý: Bao giờ cũng phải có epinephrine trong tay khi tiêm penicillin. Theo dõi xem có biểu hiện và choáng dị ứng không, có thể xảy ra trong vòng 30 phút.

 

 

Theo NTD