Quy trình mổ đẻ. | CSTY - Chuyên gia tư vấn tâm lý, tình yêu, sức khỏe sinh sản tình dục

Quy trình mổ đẻ.

Sinh thường là quá trình sinh nở theo diễn biến tự nhiên khi thai đủ ngày đủ tháng sẽ có cơ chế chuyển dạ, con ra đời qua đường sinh dục, cụ thể là qua đường âm đạo của người mẹ, còn sinh mổ là một can thiệp y học bằng phương pháp phẫu thuật ngoại khoa để đưa thai nhi ra ngoài. Phương pháp sinh mổ dần trở nên không còn xa lạ với phần lớn mọi người, tuy nhiên thì không phải ai cũng có thể hiểu rõ về phương pháp này cũng như các ưu nhược điểm của nó.

Giới thiệu về phương pháp mổ đẻ

 

Sinh thường là quá trình sinh nở theo diễn biến tự nhiên khi thai đủ ngày đủ tháng sẽ có cơ chế chuyển dạ, con ra đời qua đường sinh dục, cụ thể là qua đường âm đạo của người mẹ, còn sinh mổ là một can thiệp y học bằng phương pháp phẫu thuật ngoại khoa để đưa thai nhi ra ngoài. Phương pháp sinh mổ dần trở nên không còn xa lạ với phần lớn mọi người, tuy nhiên thì không phải ai cũng có thể hiểu rõ về phương pháp này cũng như các ưu nhược điểm của nó.

 

quy trình sinh mổ, mổ đẻ, phẫu thuật, chỉ định mổ đẻ, biến chứng mổ đẻ

 

Ảnh minh họa.

 

Các trường hợp thường được chỉ định mổ đẻ

 

Sinh mổ thường được chỉ định một khi có vấn đề đe dọa tính mạng mẹ và thai nhi mà phải chấm dứt thai kỳ sớm hơn dự tính, hoặc có những yếu tố nguy cơ gây đẻ khó nếu theo phương pháp sinh thường. Chủ yếu các nguyên nhân thường gặp khiến sản phụ sinh mổ là:

 

Về phía sản phụ:

 

- Xương chậu hẹp, dị hình hoặc thai nhi quá lớn (trên 4.000gr)

- Mang nhiều thai một lúc (thường là thai đôi, thai ba).

- Tử cung có dấu hiệu vỡ, thường gặp trong các trường hợp có thai sớm sau sinh mổ, chấn thương tử cung, cổ tử cung, dị dạng tử cung, khung chậu,....

- Cơn co thắt tử cung yếu, khiến quá trình sinh sản kéo dài gây suy thai, hoặc gây kiệt sức cho thai phụ. Không có cơn co tử cung.

- Thai phụ mắc hội chứng cao huyết áp, bệnh tim mạch, tiền sản giật.

- Có tiền sử khó đẻ hoặc phẫu thuật tử cung, mổ đẻ trước đó

- Mẹ có nguy cơ băng huyết do các bệnh lý cản trở quá trình đông máu.

 

Về phía thai nhi:

 

- Vỡ ối sớm

- Dây rốn cuốn cổ

- Suy thai

- Vị trí của thai nhi không thuận, ngôi thai bất thường như ngôi ngang, ngôi ngược, ngôi thai khác thường như nằm ngang, thế cằm sau ngôi đầu, không thể sinh ra thông qua âm đạo, ngôi mông lần sinh đầu…

- Rau bong non, rau tiền đạo...

Một số trường hợp sinh mổ là do nguyện vọng của gia đình.

 

 

Quy trình mổ đẻ

 

Bước chuẩn bị:

 

Trước khi thực hiện phương pháp sinh mổ, thai phụ sẽ phải thực hiện nghiêm túc các thủ tục hành chính, đồng thời cũng chính là những bước quan trọng để đề phòng những bất trắc có thể xảy ra trong quá trình sinh như ký giấy cam kết, thông báo tiền sử bị dị ứng (hay sốc phản vệ) với thuốc gây tê, gây mê cho bác sỹ, xét nghiệm nhóm máu, chuẩn bị máu để truyền trong những trường hợp mất máu cấp, cạo lông vùng sinh dục và làm sạch cơ thể... Bác sỹ sẽ hướng dẫn thai phụ nhịn ăn, đặt ống thông tiểu và thụt tháo để làm sạch đường tiêu hóa, tiết niệu trước khi thai phụ lên bàn mổ. Khi lên bàn mổ, thai phụ sẽ được lấy đường truyền tĩnh mạch sẵn sàng để kịp thời đưa thuốc, máu vào cơ thể. Máy đo nhịp tim và huyết áp được kết nối và bắt đầu hoạt động.

 

Bước gây tê (gây mê):

 

Tùy vào tình trạng sức khỏe và sự tiên lượng các nguy cơ biến chứng có thể xảy ra, bác sỹ sẽ có chỉ định đối với trường hợp của bạn là gây tê tủy sống, hay gây mê nội khí quản.Thông thường, với các trường hợp sản phụ có nguy cơ tai biến cao trong quá trình sinh nở như sản giật, tiền sản giật nặng, rau bong non, rau tiền đạo thể bán trung tâm hoặc trung tâm, sản phụ có cột sống dị dạng, sản phụ bị động kinh, tâm thần hay mắc các bệnh liên quan đến tim mạch sẽ được chỉ định phương pháp gây mê nội khí quản.

Trường hợp bạn được gây tê tủy sống bạn vẫn hoàn toàn tỉnh táo khi bác sỹ phẫu thuật thực hiện các thao tác để đưa em bé ra ngoài,còn trường hợp gây mê toàn thân thì đương nhiên,bạn hoàn toàn sẽ rơi vào tình trạng hôn mê và không biết gì khi bác sỹ thực hiện phẫu thuật.

 

Bước thực hiện phẫu thuật sinh mổ:

 

Thai phụ trong tư thế nằm ngửa, trải săng có lỗ bộc lộ phần bụng, được bác sỹ sát trùng bằng các thuốc sát trùng đặc hiệu. Sau đó bác sĩ sản khoa sẽ rạch một vết trên bụng khoảng 20cm xuyên qua vùng bụng và tử cung. Thông thường phương pháp mổ hiện nay bác sỹ sẽ rạch đường mổ ngang ở trên xương vệ (xương mu) vài centimet. Ở các trường hợp nếu bé còn quá non nớt và phần dưới của tử cung chưa đủ mỏng để rạch ngang thì bác sĩ sẽ rạch đường dọc tử cung từ ngay dưới rốn.

 

Túi nước ối sẽ được phá vỡ, bác sĩ đưa tay vào trong và kéo bé ra bên ngoài. Mũi và miệng bé được hút dịch sau đó, lúc đó bé bắt đầu cất tiếng khóc đầu tiên, dây rốn được cắt và mẹ được nhìn lướt qua đứa con vừa chào đời của mình. Lúc này bác sĩ đưa nhau thai ra ngoài,bác sỹ thực hiện kiểm soát làm sạch tử cung tránh sót rau và tiến hành khâu vết mổ lại theo các lớp từ trong ra ngoài. Chỉ khâu được sử dụng là chỉ tự tiêu, thời gian khâu mất khoảng 30 phút.

 

Sau khi phẫu thuật sinh mổ xong mẹ sẽ được theo dõi thêm trong 6h đầu, sau đó sẽ được chuyển sang khu hậu phẫu để tiếp tục được chăm sóc cho đến khi xuất viện.

 

Biến chứng sau mổ đẻ

 

Sau đẻ mổ có thể có những biến chứng sau ảnh hưởng đến mẹ và bé

- Biến cố do phẫu thuật như gây tổn thương các cơ quan lân cận (bàng quang, ruột), rò bàng quang - tử cung, rò bàng quang - âm đạo. Chảy máu do chạm phải động mạch tử cung, chảy máu do rách thêm đoạn dưới.

- Nhiễm trùng: Thường gặp là nhiễm trùng vết mổ, nhiễm trùng ối gây viêm phúc mạc có thể dẫn đến cắt tử cung trong thời gian hậu phẫu.

- Dính ruột, tắc ruột. Tắc ống dẫn trứng gây vô sinh thứ phát. Lạc nội mạc tử cung. Sẹo trên thân tử cung có thể bị nứt trong những lần có thai sau (nứt khi chưa vào chuyển dạ hoặc khi đã vào chuyển dạ).

- Đối với bé: Thai nhi có thể bị chạm thương trong khi phẫu thuật; hít phải nước ối; suy hô hấp cấp tính sơ sinh khi chưa có yếu tố chuyển dạ, có thể mắc các bệnh về hô hấp.

 

Kết luận

 

Hiện nay thì cùng với sự tiến bộ về y học, các ca phẫu thuật sinh mổ cũng có tỷ lệ thành công cao hơn, phương pháp này cũng được nhiều thai phụ lựa chọn như một phương pháp vượt cạn nhiệm màu vì giảm đau đớn và nguy hiểm cho cuộc đẻ, nhưng bên cạnh đó cũng có những biến chứng có thể xảy ra và có cả những nguy cơ tiềm ẩn cho những lần sinh sau cũng không ít. Vì thế trước khi quyết định sinh mổ, hãy tham khảo của các bác sỹ chuyên về sản phụ khoa để được nhận những lời khuyên bổ ích, giúp mẹ yên tâm khi vượt cạn.

CSTY
Loading...
06.12 - Cho mình nhờ tư vấn với, mình bị thủy đậu trong thời gian ủ bệnh có qh vợ chồng và có...
06.12 - Chào Bác Sĩ, Cho em hỏi thai em được 6 tuần, chiều dài phôi thai 04mm nhưng không thấy...
05.12 - Tháng 5, em bị kéo đâm chân, có tiêm uốn ván, em tiêm đến tháng 6 là hết mũi 2. Tháng 8...
05.12 - Thực sự em rất lo lắng cho con. Vì không biết mình có thai nên em lỡ uống 1 viên thuốc...
03.12 - Chào bác sỹ, em có kinh ngày 13/10 đến ngày 9/11 em xét nghiệm beta 95 , ngày 11/11 beta...
03.12 - Chào bác sĩ em chích ngừa uốn ván lúc thai được 15 tuần là ngày 29-10, đến ngày 19-11 em...
02.12 - Xin chào bác sỹBác cho em hỏi vòng kinh của em từ 60-90 / chu kỳ. Em có kinh ngày 1/10/...
02.12 - Dạ chào Bác sĩ. Bây giờ thai em được hơn 30 tuần . Từ lúc thai 23 tuần 5 ngày cho tới bây...
Có thể bạn quan tâm