Y học tình dục: Bệnh nam khoa và những bi kịch

Ông là người đầu tiên khởi xướng việc mở chuyên khoa chữa bệnh liệt dương ở Việt Nam , âm thầm đem lại hạnh phúc cho rất nhiều gia đình. Từ chỗ chia sẻ, “làm chui” giúp bạn bè đến chỗ tạo dựng được chuyên khoa chữa “bệnh khó nói” dành cho đàn ông nổi danh khắp Hà Nội. Ông là giáo sư Trần Quán Anh.

Nam học chính là y học tình dục

Dường như nhiều người vẫn thấy lạ tai khi nghe “chuyên khoa nam học”. Là giám đốc Trung tâm Nam học đầu tiên ở Việt Nam, ông cắt nghĩa “nam học” là gì?

Chuyên khoa này bao gồm nhiều chuyên khoa sâu khác nhau như xương, hàm, mặt, tiêu hóa, thần kinh... và còn có cả tiết niệu nữa. Nam học là chuyên sâu nữa của tiết niệu. Phải gọi là chuyên khoa nam học là do "kiêng", né đi chứ đúng ra phải gọi là nội tiết tố học và tình dục học hay như thế giới gọi là y học tình dục.

Ở Việt Nam, giai đoạn đầu, từ năm 1990 đến 2002, chúng tôi nói đùa với nhau đây là thời kỳ làm chui. Măi đến năm 2002, sau 12 năm thì chúng tôi mới được bắt đầu thành lập một đơn vị nam học đầu tiên thuộc Vụ Sức khỏe sinh sản. Từ năm 2002 đến 2006, chúng tôi chạy những bước rất nhanh và những bước không ngờ, đuổi kịp trình độ thế giới. Ngày 7/1/2006 , Trung tâm Nam học đầu tiên ở Việt Nam ra đời. Ngoài việc khám chữa bệnh, trung tâm này còn có trách nhiệm tập huấn đào tạo cho các địa phương. Từ đó đến nay, ngành nam học bắt đầu hình thành, nói đến nam học người ta mới hiểu đó là cái gì.

Tại sao ông lại chọn nghề này khi mà nó rất mới ở Việt Nam và dư luận xã hội chưa quen ?

Phải nói thật, trên thể giới, phụ khoa thì có tới hàng ngàn năm nhưng nam khoa xuất hiện trong những năm 1960, đến năm 1980 thì mới bắt đầu hoàn chỉnh. Còn ở Việt Nam thì chậm hơn thế giới khoảng 10 năm.

Tôi thuộc khóa thế hệ đầu tiên vào đại học sau hòa bình lập lại. Sau tốt nghiệp, năm 1961, tôi được giữ ở lại trường. Năm năm đầu, tôi được phân công ở khoa phẫu thuật tiết niệu. Trong tiết niệu, tôi lại đi sâu về nam học.

Tôi có một người bạn thân. Anh ấy bị người vợ ruồng bỏ do sinh lý quá yếu. Anh ấy rất cao to và đẹp trai, lại là giảng viên ở một đại học. Khi tìm đến tôi, tâm trạng anh ấy rất đau khổ, dằn vặt. Tôi đã tìm mọi cách để giúp anh ấy khỏi bệnh. Và tất nhiên, bây giờ anh ấy đã lên chức ông lâu rồi.
Những cầu cứu của bệnh nhân buộc mình phải tìm hiểu, đọc sách nước ngoài, kinh nghiệm đồng nghiệp nước ngoài… vì lúc đó ở Việt Nam chưa có thông tin gì về chuyên khoa này. Tự mình phải mày mò triển khai và sở dĩ Bộ y tế cũng đánh giá tôi là người khởi xướng chuyên ngành này là vì như vậy.

Người bệnh đều ngại ngùng, xấu hổ.

Bệnh nhân tìm đến ông như thế nào, tâm trạng của họ có như những người mắc các bệnh khác?

Hoàn toàn khác. Họ rụt rè, xấu hổ, ngại ngùng. Tôi đã tổng kết bệnh nhân tìm đến tôi trong bốn tình trạng. Một là đã ly hôn, hai là đang sống ly thân, ba là vợ chồng định ly hôn nhưng dắt nhau đến chỗ chúng tôi xem có cứu vãn được không. Tôi đã còn nhớ rất nhiều người vợ của bệnh nhân đến rồi thụp xuống chân tôi khóc mà van xin rằng: “Giáo sư cố cứu chúng em vì em rất thương anh ấy, không muốn phải li dị.” Còn tâm trạng thứ tư là hoàn cảnh của người vợ cố sống, ngụy trang với dư luận nhưng trong nội tâm có rất nhiều điều giằng xé. Nhiều người đàn ông khi mắc bệnh thì lại bị chính người vợ của mình khinh rẻ. Nhiều người khi biết vợ ngoại tình thì cũng đành ngậm ngùi chấp nhận, rồi sa vào cờ bạc, rượu chè. Đó là những bi kịch. Không bi kịch nào giống bi kịch nào. Tất cả đều rất khổ tâm.

Đã bao nhiêu lần tôi định tổ chức cuộc gặp mặt tất cả bố mẹ và những đứa con, là kết quả mà chúng tôi đã điều trị thành công. Thế nhưng rất đáng tiểc ý tưởng này của tôi vẫn chưa thực hiện được. Bởi những thư mời chúng tôi chuyển đến đều được phúc đáp rất trân trọng nhưng không có ai nhận lời tham dự cuộc hội ngộ này. Họ không muốn xuất hiện vì sợ dư luận sẽ cho rằng những đứa con của họ sinh ra là do chạy chữa.

Giáo sư có nói đến các bi kịch? Vậy những bệnh này có liên quan gì đến chuyện li hôn hay vợ đi ngoại tình…?

Tôi đơn cử có một đôi vợ chồng là giảng viên một trường đại học có tiếng ở Hà Nội. Họ lấy nhau5 năm mà chị vợ vẫn còn... trinh! Gặp tôi, chị kể chị khổ lắm. Chị luôn cố giữ để không tan vỡ gia đình vì cả hai đều là trí thức. Những hôm mưa, gió rét là những lúc chị cảm thấy tủi nhục nhất. Chị cố nén lòng mà dậy để làm một việc gì đó giữa đêm khuya như đan áo hay bóc lạc. Chị bảo như thế để có thể quên đi những đòi hỏi, ham muốn của con người. Sau một vài tháng, tôi đã chữa khỏi bệnh cho chồng chị và khi đó cuộc sống của vợ chồng chị mới được bình thường như những người khác.

Giáo sư có cảm nhận gì về những phụ nữ như thế?

Thử tưởng tượng rằng một phụ nữ có chồng bị bệnh từ lúc trẻ mà 15 năm sau không một lần ngoại tình, vẫn sống chung thủy thì quả là rất đáng trân trọng. Chỉ có ở Việt Nam mới có những người phụ nữ như thế, những câu chuyện như thế. Bởi cái đòi hỏi của con người ghê gớm lắm chứ, mãnh liệt lắm chứ. Nhưng mà người ta biết nén những đau đớn ấy để sống và tỏ ra ngoài đời là vẫn êm ấm. Đấy là một bi kịch nội tâm.

Bệnh nhân Úc cũng tìm đến

Như ông nói ở trên là trình độ của chúng ta không thua thế giới?

Tôi kể một trường họp để chứng minh. Rất thú vị. Có một thanh niên người Úc sang Việt Nam làm việc và lấy một cô vợ người Việt Nam . Trước đây, không hiểu lý do gì mà anh chàng này đã thắt ống dẫn tinh, rồi đã chạy chữa khá nhiều nhưng không khỏi. Cuối cùng, qua lnernet và được biết là Việt Nam mổ được nên anh ta đã sang Việt Nam gặp tôi. Năm 2005, tôi đã mổ cho anh ấy. Bẵng một thời gian khá lâu, anh chàng này báo tin cho tôi là vợ anh đã có bầu được bảy tháng. Nói chung là rất phấn khởi. Còn rất nhiều trường hợp khác, cả người Đức và Hàn Quốc nữa . Chỉ biết là bệnh nhân càng ngày càng tín nhiệm, tìm đến chỗ chúng tôi nhiều hơn. Có thể nói thương hiệu của Việt Nam đã có giá trị.

Trường hợp bệnh nhân nào ông lưu tâm nhất?

Đó là một bệnh nhân đến 53 tuổi mới kết hôn mà lại không thể làm “chuyện ấy” với vợ tìm đến tôi và anh ấy đã cầu cứu tôi giúp. Toi đã cho anh ấy uống thuốc. Một hôm, khoàng 1 giờ đêm thì anh ấy đến đập cổng nhà tôi thình thình. Nhà thì xa cổng khoảng 20m nhưng tôi nghe thấy tiếng anh ấy gọi rất to: “Giáo sư ơi! Giáo sư ơi!”. Tôi sợ quá vì tưởng ông ấy bị biến chứng gì bởi uống thuốc thì không thể tránh khỏi có trường hợp bị tai biến. Lúc đó, tôi may ô, quần đùi chạy vội ra mở cửa. Ông ấy đưa cả cô vợ đến mà khoe rằng: “Thưa Giáo sư, lần đầu tiên em hoàn thành nghĩa vụ với vợ. Em đến báo để Giáo sư chia vui với em ạ!”.

Còn những kỷ niệm chữa vô sinh thì rất nhiều. Thỉnh thoảng tôi lại nhận được tin của các bệnh nhân mà tôi điều trị cho, họ báo là đã có tin vui. Thậm chí có khi cả năm, sáu cặp vô sinh đến cùng một lúc. Họ bế cả con đến. Những dịp như thế thì vui lắm.

5.000 bệnh nhân, 5.000 bi kịch

Ông có nhớ đã chữa cho bao nhiêu bệnh nhân? Điều trị cho các bệnh nhân nam học có khác biệt gì so với các bệnh nhân khác không, thưa ông?

Khoảng 5.000 bệnh nhân và cũng chính là 5.000 bi kịch khác nhau. Chữa bệnh cho những bệnh nhân nam khoa phải rất kiên trì, nhẫn nại. Như người bị viêm phổi thì kê đơn thuốc, sau 10 ngày uống thì bệnh tình biến chuyển nhưng đối với loại bệnh này, có trường hợp phải điều trị tới hai, ba năm mới có thể thành công được.

Dư luận về những bệnh này như thế nào, thưa ông?

Đã tiến bộ hơn rất nhiều. Sở dĩ có chuyển biến là từ năm 2005, tôi đã được Bộ Y tế cho phép trình bày bộ môn nam học trước Quốc hội. Khi đó tôi đã nói đến tầm quan trọng của chuyên ngành này và những ảnh hưởng của nó đến hạnh phúc của từng gia đình như thế nào. Tôi nhớ buổi thuyết trình ấy thì cũng chỉ có những nam đại biểu Quốc hội tham dự thôi.

Tổi chỉ nói: “Xin các đồng chí chấp nhận cho đây là một bệnh cần phải chữa, phải được bình đẳng như các bệnh khác. Tại sao những bệnh nhân như tim, dạ dày hay phổi… được các giáo sư, thầy thuốc chăm sóc, cứu chữa còn những người bị trục trặc về bệnh khó nói này thì cứ phải giấu nhẹm để rồi âm thầm chịu đựng, không được chữa trị?”. Tại buổi đó, hầu hết mọi người đều cho rằng đây là vấn đề hết sức quan trọng. Rất may là sau buổi thuyết trình đó thì chuyên ngành này mới được chấp nhận.

Chỉ đấu tranh để được công nhận là một loại bệnh cũng đã rất gian nan. Nhưng tiếc quá là đến lúc được chấp nhận về mặt pháp lý, chấp nhận về mặt dư luận thì tuổi mình cũng đã cao rồi.

Hiện nay ở Việt Nam có bao nhiêu bác sĩ chuyên khoa về nam học?

Thực tế hiện nay mới chỉ có 5-6 người thôi. Tôi cũng đang gấp rút đào tạo một số học trò ở các tỉnh. Mong muốn của tôi là nhân rộng cơ sở điều trị cho bệnh nhân vì càng ngày càng có nhiều bệnh nhân cần được điều trị hơn.

Xin cảm ơn Giáo sư về buổi nói chuyện thú vị này.

Có thể bạn quan tâm