Cơ chế gây sốt và cách hạ sốt

Sốt do vi khuẩn và nội độc tố vi khuẩn. Khi sốt nên ưu tiên cởi bớt quần áo cho thoáng, chườm khăn lạnh lên chỗ có mạch máu lớn đi qua.

Cơ chế gây sốt

Sốt có thể do nhiều yếu tố gây ra gồm vi khuẩn và nội độc tố vi khuẩn, virut, nấm, xoắn khuẩn, các phản ứng miễn dịch, các hormon điển hình là progesterol, các thuốc và các polynucleotid tổng hợp. Các chất này gọi chung là chất sinh nhiệt ngoại sinh

Khi đó làm cho thân nhiệt bình thường trở nên thấp hơn "mức chuẩn" mới làm người ta có cảm giác ớn lạnh, sởn gai ốc, run và co mạch ngoại vi làm da và niêm mạc tái. Đây là triệu chứng khởi đầu của cơn sốt và là cơ chế làm tăng thân nhiệt. Khi thân nhiệt đạt tới "mức chuẩn" mới thì quá trình sinh nhiệt và thải nhiệt cân bằng và sốt duy trì thân nhiệt ở mức cao.

Khi nguyên nhân sốt được loại bỏ thì mức "nhiệt chuẩn" trở lại bình thường làm người bệnh lại cảm thấy quá nóng vì thân nhiệt đang ở mức cao. Bệnh nhân bỏ chăn, vã mồ hôi, da ửng đỏ vì giãn mạch, tăng tần số thở, các phản ứng trên làm tăng thải nhiệt và sốt giảm. Như vậy, sốt là một phản ứng bảo vệ của cơ thể để chống lại các tác nhân gây bệnh.

Hiện tượng này gây ra đau mỏi cơ và teo cơ bắp do sốt. Sốt làm tăng nhịp tim, tăng tiết mồ hôi gây mất muối, mất nước, nhức đầu, sợ ánh sáng, toàn thân mệt mỏi. Người cao tuổi đang mắc các bệnh tim hoặc não thì sốt là tác động xấu. Trẻ em khi sốt cao trên 40oC dễ bị co giật.

Từ các phân tích trên chúng ta cần có thái độ hợp lý khi xử lý sốt để phát huy được tác dụng tích cực và làm giảm những tác dụng bất lợi của sốt. Khi sốt nhẹ (<38oC) thường ít gây hại, không khó chịu nhiều lại có lợi cho cơ chế bảo vệ của cơ thể thì không nên hạ sốt. Khi sốt cao (nhiệt độ nách >39oC) thì cần hạ nhiệt.

Các biện pháp hạ sốt

Có hai biện pháp hạ nhiệt, đó là:

Hạ nhiệt bằng phương pháp vật lý (nên được ưu tiên sử dụng trước) gồm cởi bớt quần áo cho thoáng, chườm lạnh bằng đắp khăn thấm nước lạnh lên chỗ có mạch máu lớn đi qua như bẹn, nách, trán, hai bên thái dương, trường hợp đặc biệt có thể tưới nước muối đẳng trương đã để lạnh lên người. Trong trường hợp say nóng nếu thân nhiệt trên 42oC thì ngâm người trong bồn nước mát được coi là một biện pháp cấp cứu.

Phương pháp dùng thuốc hạ sốt, có 5 nhóm thuốc hạ nhiệt giảm đau: nhóm dẫn xuất của acid salicylic (natri salicilat, aspirin), nhóm dẫn xuất của pyrazolon (antipyrin, pyramidon, amidopyrin), nhóm dẫn xuất của anilin (phenacetin, paracetamol), nhóm dẫn xuất của indol (indomethacin).

Nhóm các thuốc khác (antranilic, ketoprofen, ibuprofen...). Các thuốc trên đều có tác dụng hạ nhiệt, giảm đau, chống viêm, trong đó paracetamol, aspirin, amidopyrin hay được sử dụng để hạ sốt. Khi sử dụng thuốc hạ sốt cần lưu ý vì không có tác dụng điều trị nguyên nhân mà chỉ làm giảm triệu chứng nên khi thuốc được thải trừ, sốt sẽ trở lại.

Có thể bạn quan tâm